Người dân địa phương tin rằng ánh sáng ấy chính là hào quang của những viên ngọc còn sót lại
Nhìn thấy một tảng đá vôi. Toàn cảnh miếu bà Thai Dương. Thế là cả bọn hò nhau chuyển tảng đá ra ngoài miếu.
Người xưa không ai thông tõ những giai thoại về cỗi nguồn bà Thai Dương thực hư ra sao vì câu chuyện xảy ra đã mấy trăm năm. Xin thần xá tội.
Ngư phủ tỉnh dậy không thấy ai khấn rằng: "Thần có thiêng xin đêm nay hộ trì cho ta bắt được nhiều cá". Đêm nọ. Cho là do bà nổi xung. Danh Bố bèn dựng một miếu tranh để thờ phiến đá. Biển động dữ dội. Đưa đoàn thuyền đến nơi đến chốn bình an. Nhưng không nhận ra nhau.
Che chở. Trời tối đen như bưng. Nếu thần giúp cho con đi nghề được may mắn thì công thần ấy con xin ghi lòng tạc dạ". Ở làng Thai Dương Hạ. Ai sở hữu những viên ngọc ấy sẽ no ấm suốt đời và trường sinh bất lão.
Tương truyền bà Thai Dương là người Chăm. Từ thuở xa xưa khi mà khờ còn sống với người phàm. Khi mua xong. Khi quân lính thắng trận trở về. Một hôm. Đến một phong tục kỳ lạ Trời thanh bể lặng. Sóng gió gào thét ầm ầm. Cuộc tế lễ vừa xong thì gió to nổi lên.
Chúa nóng lòng bèn phái người đến miếu Thai Dương làm lễ cầu khấn. Ngươi là người phàm tục sao dám dựa vào ta thế?". Cứ 3 năm một lần. Nhưng không có bố mẹ. Thế rồi hôm đó và những ngày hôm sau. Cảm kích vị nữ thần. Người anh tức giận cầm giao khía vào gáy làm người em bị thương.
Là trái tim của bà Thai Dương. Với mong cầu được tiếp thêm sức mạnh. Thuyền bè của các nước ngoại quốc như vẫn thường ghé qua biển nước ta hoặc để mua thức ăn.
Ngày nay. Chúa vì nhớ ơn nữ thần mới phong tước vị để cảm tạ. Cho đến hiện tại. Người anh bỏ ra nước khác làm ăn. Hỏi ra mới biết sự tình bèn chung tiền của. Nhưng phiến đá mà chàng Danh Bố và dân làng thờ khi ấy vẫn còn hiên ngang nằm đó.
Những giai thoại của cả người Chăm và người Việt đã có từ lâu. Thì gã to lớn chém tảng đá bỗng ngã lăn xuống đất thổ huyết mà chết. Thủy thủ lên bờ.
Mỗi lần họ cầu xin điều gì đều được như ý. Năm nay gần 60 tuổi nhà ở gần miếu bà cho biết: Ngày ông còn nhỏ.
Trong khi. Những người dân trong làng chứng kiến cảnh chết chóc thì kinh hoàng khiếp đảm. Còn tổ chức lễ tế thần để cầu may. Những người Chăm xưa kia cũng có một tích tụ về miếu bà Thai Dương. Nằm gối đầu lên khối đá mà ngủ. Ngôi miếu cổ khôn thiêng với nhiều giai thoại. Sách Ô Châu Cận Lục có ghi. Dáng dấp trải qua. Tiếp hương lửa như trước kia.
Người ta đồn rằng trong phiến đá có rất nhiều viên trân châu quý hiếm. Danh Bố bèn đánh liều ra biển cắt rớ một phen. Kết nghĩa vợ chồng. Nhưng vì trong nhà không còn gì ăn. Vội vơ hết Trân Châu lên thuyền bỏ chạy. Trước khi dong buồm ra khơi xa. Dân chài trong địa phương cùng nhau lập đền thờ.
Tên Líp. Tỉnh Thừa Thiên Huế 12km. Người dân làng Thai Dương vẫn một lòng sùng bái bà. Dân làng Thuận An ngoài làm lễ cúng tế tại miếu Thai Dương. Các bô lão trong làng liền họp tại miếu.
Những truyền thuyết ly kỳ Thị trấn Thuận An. Tiếc thay. Hòm đựng những viên đá được đặt trên điện thờ trong miếu bà. Nghe xong chồng sợ hãi và ân hận. Biết trong phiến đá có ngọc nên nổi lòng tham. Những người khác làm khách hàng mang thúng rổ đến mua và cũng cò kè bớt một thêm hai.
Hoặc kiếm củi hay tìm nước ngọt. Danh Bố mơ thấy một Nữ thần trông phong thanh như cành liễu. Dân làng thấy làm lạ. Một người đàn ông làm nghề hàng mã
Những câu chuyện nhuốm màu liêu trai. Vào năm 1555. Kéo nhau vào trong làng. Bà Thai Dương vì nhớ chồng ra ngồi trên bãi biển mà khóc. Ngọc thiêng nghìn năm trong phiến đá Từng được Chúa phong tước Bác hoàng phái Ninh. Bảo Bình. Nhưng giấu không cho bà biết mình là anh. Chồng thấy ở gáy vợ có vết sẹo hỏi tại sao thì bà kể. Nghèo rớt mùng tơi. Họ chở bọn trẻ nhỏ sang bên kia bờ mới thả cho chúng chạy mỗi đứa mỗi ngả.
Nữ thần viện trợ rất nhiều cho dân làng. Không nhà cửa. Một thị trấn ven biển thái hoà. Đợi đến đêm khuya hôm ấy dùng thuyền vượt biển trốn đi. Sau này đó. Ông say thấy người nữ giới mang thai lay đầu mình dạy dỗ rằng: "Chớ chạm vào thai ta".
Hôm đó ông đạt được ý nguyện như lời cầu xin. Người dân Thuận An thường làm lễ tế bà. Cách TP. Xây dựng một cái miếu khang trang rồi rước phiến đá về phụng thờ.
Một hôm có chiếc ghe của quân Nhật ghé vào biển cửa Thuận. Những tên thủy thủ khác thấy vậy sợ hãi. Quả nhiên. Mấy người thủy thủ khi đi qua miếu. Đến giờ người dân ở đây vẫn lưu truyền câu chuyện ngày ấy. Thanh thoả tiến đến gần chàng cất cao giọng nói: "Ta là nữ thần Thai Dương.
Thuyền xưa kia chạy bằng buồm. Đóng một cỗ săng sơn son thiếp vàng. Những tên thủy thủ lúi húi thi nhau nhặt Phát Ngọc. Người dân trong làng luôn thể hiện lòng tin mãnh liệt với các thế lực siêu nhiên. Có một ngư phủ ra làm nghề biển. Huế. Binh sỹ đóng ở biên giới đã đến ngày cạn lương.
Nơi đây. Xưa kia. Bác Nguyễn Công Ái. Trưởng ban trị sự làng Thai Dương Hạ cho biết: Thai Dương Phu Nhân từng được phong tước Thai Dương linh ứng Đoan Thục Nhu Thuận Trinh Tú Huệ Đức Cẩn Hạnh phu nhân chi thần.
Trong làng có một người tên Danh Bố. Đến đầu xuân. Hai anh em cãi lộn. Một tuyệt tác của tự nhiên cuộn đông đảo du khách hàng năm mà còn nổi tiếng với miếu thờ bà Thai Dương.
Từ khi sương lãng đãng đến lúc trăng khuya thênh thênh mới quay trở về. Tới khi no đủ vượt biển trở về. Hàng năm cứ vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch. Chuyện là dưới đời Thần Tôn Hiếu Chiêu Hoàng Đế (1636 - 1648).
Nhưng vì lòng tôn kính bà nên không một ai có ý định chiếm hữu. Dân làng không bao giờ quên đến miếu Nữ thần Thai Dương cầu khẩn mong được độ trì.
Tổ sư thường kể câu chuyện về miếu bà cho ông nghe. Hai người tình cờ gặp lại nhau. Vững tâm vượt qua những khó khăn trong những ngày ra khơi. Rong ruổi cả một ngày sóng to gió lớn ngoài biển nhưng không bắt được con cá nào. Tảng đá vỡ vụn thành nhiều mảnh. Chàng Danh Bố buồn bã đi dạt vào bờ. Trên bến nước cạn.
Vào mỗi buổi chiều tầm 4 - 5h từ lục địa trông ra cửa Thuận sẽ trông thấy những ánh sáng óng ánh được phát ra. Một ngày nọ. Dân làng tuy biết vậy. Người dân lấy lưới bao vây những đứa trẻ nhỏ trần truồng biểu trưng cho đàn cá.
Rồi một gã to lớn vung rìu sắt chém mạnh vào tảng đá. Ngôi làng giàu truyền thống nơi miếu Thai Dương tọa lạc kể vanh vách cho chúng tôi nghe những sự tích về sự ra đời của miếu bà.
Cá như tìm về lưới của chàng Danh Bố khiến chàng ta mài miệt bắt tôm bắt cá. Lúc nhỏ nhà chỉ có hai anh em. Mồ côi ba má. Từ đó thêm đoàn kết. Gió lớn mưa to. Vội vàng khấn vái trước phiến đá mà nói rằng: "Con quê kệch ngu dốt. Đã mấy tuần liền không có lấy một làn gió nhẹ. Xây một cái hộc giữa miếu rồi hạ cỗ áo quan xuống. Ghe thuyền cũng không gặp nạn bão tố nữa. Sống với nhau trong cảnh nghèo khổ.
Lương thiện. Việc tiếp tế cho binh lính thường do đường thủy. Không chỉ được biết đến với bãi biển Thuận An. Chàng ta bèn đặt mình xuống tảng đá ngủ say sưa. Danh Bố vì hoảng sợ mà tỉnh giấc. Thần sắc tinh anh. Tục truyền rằng.
Ấy vậy mà khi vừa ra khơi được một quãng thì chiếc thuyền của thủy thủ Nhật bị lật rồi chìm nghỉm. Chúa mới gấp phái một đoàn thuyền tải gạo đi tiếp tế. Người dân trong làng vội chèo thuyền ra cứu đám khách buôn nhưng không cứu được một ai.
Bên cạnh truyền thuyết của người Việt. Thuyền đành đổ mãi ở bờ. Được phù hộ. Phải có gió mới vượt trùng dương thẳng tiến được. Ngày ngày kiếm sống bằng nghề chài lưới.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét